Trợ cấp mất việc làm: Cách tính và mức tối thiểu 2 tháng lương

Khi nào được trợ cấp mất việc làm? Cách tính thời gian, tiền lương và mức tối thiểu 2 tháng, kèm ví dụ và tình huống cho HR.

HR Foundation · Luật Lao động · Bài đọc thêm
Cập nhật nội dung:

Thuộc lộ trình Luật lao động cơ bản cho người mới.

Trợ cấp mất việc làm: điều kiện hưởng và mức tối thiểu — HRVN Academy

Doanh nghiệp cắt giảm nhân sự có phải trả ít nhất 2 tháng lương cho tất cả người nghỉ việc? Không thể kết luận chỉ từ cụm từ “cắt giảm”. Trước tiên phải xác định đúng trường hợp chấm dứt và điều kiện hưởng trợ cấp mất việc làm.

Khi người lao động đủ điều kiện hưởng theo Điều 47 Bộ luật Lao động, mỗi năm tính trợ cấp tương ứng 1 tháng tiền lương, nhưng mức trả ít nhất bằng 2 tháng tiền lương. Bài này giúp bạn hiểu khi nào áp dụng mức tối thiểu và cách tính mà không bỏ sót khoản trừ.

Trợ cấp mất việc làm áp dụng cho trường hợp nào?

Điều 47 và khoản 2 Điều 8 NĐ 145/2020/NĐ-CP yêu cầu người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên và bị mất việc theo khoản 11 Điều 34, gắn với các trường hợp tại Điều 42-43.

  • Điều 42: thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế thuộc phạm vi luật quy định. Không phải mọi trường hợp doanh thu giảm, muốn tiết kiệm chi phí đều tự động đáp ứng điều kiện này.
  • Điều 43: chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, khi phát sinh việc cho người lao động thôi việc theo quy định.

Hết hạn HĐLĐ, người lao động tự xin nghỉ, hai bên thỏa thuận chấm dứt, xử lý kỷ luật sa thải và doanh nghiệp chấm dứt hoạt động là các căn cứ cần phân loại riêng. Không gom tất cả thành “mất việc” chỉ vì người lao động không còn làm tại công ty.

Việc tính trợ cấp cũng không thay thế nghĩa vụ về phương án sử dụng lao động, đào tạo lại, tham vấn, thông báo và các thủ tục khác khi Điều 42-44 yêu cầu. Trả đủ tiền không tự làm một quyết định chấm dứt sai căn cứ trở thành hợp pháp.

Khác gì với trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp?

  • Trợ cấp thôi việc: doanh nghiệp trả theo Điều 46, mỗi năm tính trợ cấp bằng 0,5 tháng tiền lương; không có mức tối thiểu chung 2 tháng như trợ cấp mất việc.
  • Trợ cấp mất việc làm: doanh nghiệp trả theo Điều 47, mỗi năm tính trợ cấp bằng 1 tháng tiền lương, nhưng ít nhất 2 tháng tiền lương khi đủ điều kiện.
  • Trợ cấp thất nghiệp: là chế độ của bảo hiểm thất nghiệp, có điều kiện và hồ sơ riêng theo pháp luật về việc làm. Không phải khoản doanh nghiệp tự động cộng vào quyết toán nghỉ việc.

Trong những trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp, một hồ sơ có thể phải tách các giai đoạn để xử lý trợ cấp theo quy định đặc thù. Không nên chỉ chọn tên khoản nào có số tiền thấp hơn.

Công thức và các khoản thời gian phải trừ

Với người đã đủ điều kiện, trước hết xác định thời gian theo khoản 3 Điều 8 NĐ 145:

Thời gian tính trợ cấp = tổng thời gian làm việc thực tế được pháp luật tính vào - thời gian tham gia BHTN theo quy định - thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Tổng thời gian làm việc thực tế không chỉ là số tháng trực tiếp đi làm. Điểm a khoản 3 Điều 8 có danh mục cụ thể, gồm thử việc, một số thời gian nghỉ hưởng chế độ và các trường hợp được tính khác. Không tự cộng mọi thời gian nghỉ không lương hoặc học nghề.

Thời gian BHTN phải trừ còn bao gồm thời gian thuộc diện không phải tham gia nhưng đã được doanh nghiệp trả cùng lương khoản tiền tương đương phần đóng BHTN của người sử dụng lao động theo quy định. Cần có hồ sơ chứng minh khoản đã trả, không chỉ dựa vào việc doanh nghiệp cho rằng mình có nghĩa vụ trả.

Sau các khoản trừ, đổi thời gian còn lại thành năm: đủ 12 tháng là 1 năm; phần tháng lẻ có phát sinh và không quá 6 tháng tính 0,5 năm; trên 6 tháng tính 1 năm. Không còn thời gian thì kết quả thời gian là 0.

Số tiền theo thời gian = số năm tính trợ cấp × tiền lương bình quân làm căn cứ. Sau đó đối chiếu với mức tối thiểu 2 tháng tiền lương. Khi đủ điều kiện Điều 47, số tiền phải trả không thấp hơn mức tối thiểu này.

Đã đóng BHTN toàn bộ thời gian có còn mức tối thiểu 2 tháng?

Có, nếu người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp mất việc. Khoản 1 Điều 47 quy định mức tối thiểu; khoản 2 Điều 8 NĐ 145 làm rõ trường hợp đã làm thường xuyên từ đủ 12 tháng nhưng thời gian tính trợ cấp còn dưới 24 tháng.

Cần phân biệt thời gian làm việc để kiểm tra điều kiện từ đủ 12 tháng với thời gian còn lại để tính tiền sau khi trừ. Hai con số này có thể khác nhau rất nhiều.

Ví dụ giả định: người lao động làm thường xuyên 5 năm và bị mất việc thuộc diện Điều 47. Toàn bộ thời gian liên quan đã được tính BHTN; không còn thời gian tính trợ cấp. Lương bình quân đúng căn cứ là 12 triệu đồng.

  • Số tiền theo thời gian: 0 × 12 triệu = 0.
  • Mức tối thiểu: 2 × 12 triệu = 24 triệu đồng.
  • Khoản trợ cấp mất việc phải trả trong giả định này là 24 triệu đồng, không phải 0.

Ngược lại, nếu người lao động mới làm thường xuyên 8 tháng, không thể tự áp mức 2 tháng theo Điều 47 chỉ vì doanh nghiệp gọi đợt nghỉ việc là “tái cơ cấu”. Các quyền lợi khác và thỏa thuận có lợi hơn vẫn phải được kiểm tra riêng.

Tiền lương làm căn cứ và ví dụ tính đầy đủ

Theo khoản 3 Điều 47 và khoản 5 Điều 8 NĐ 145, căn cứ là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo HĐLĐ trước khi mất việc. Không tự lấy lương cơ sở, mức tối thiểu vùng, lương đóng BHXH hoặc lương thực nhận thay thế.

Đối chiếu các thành phần tiền lương trong HĐLĐ với quy định về tiền lương, gồm mức lương theo công việc/chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung có liên quan. Phân loại tiền thưởng, hỗ trợ và phúc lợi đúng bản chất; không chỉ nhìn tên khoản trên bảng lương. Trường hợp nhiều HĐLĐ kế tiếp hoặc hợp đồng cuối bị tuyên vô hiệu về lương cần đọc quy định riêng tại khoản 5 Điều 8.

Ví dụ: đã được trả trợ cấp cho một giai đoạn trước đây

Giả định đã đủ điều kiện Điều 47; tổng thời gian được tính là 48 tháng. Có 24 tháng BHTN phải trừ và 12 tháng khác đã được trả trợ cấp trước đây, hai khoảng này không trùng nhau. Tiền lương bình quân là 12 triệu đồng.

  • Thời gian còn lại: 48 - 24 - 12 = 12 tháng = 1 năm.
  • Số tiền theo thời gian: 1 × 12 triệu = 12 triệu đồng.
  • Đối chiếu mức tối thiểu 2 tháng lương: số phải trả là 24 triệu đồng.

Ở một hồ sơ khác, nếu thời gian còn lại sau các khoản trừ là 31 tháng thì tính thành 3 năm: 2 năm đủ và 7 tháng lẻ được tính 1 năm. Với cùng mức lương bình quân 12 triệu, trợ cấp là 36 triệu đồng, cao hơn mức tối thiểu.

Với hồ sơ qua sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp, khoản 4 Điều 8 có cách xác định thời gian trước và sau chuyển đổi. Cần tách giai đoạn và xác định trách nhiệm trước khi dùng công thức thông thường cho toàn bộ thâm niên.

Thời hạn thanh toán và quyền lợi liên quan

Điều 48 quy định thời hạn thanh toán các khoản liên quan khi chấm dứt HĐLĐ là 14 ngày làm việc. Những trường hợp được liệt kê tại khoản 1, trong đó có thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế và một số trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp, có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

HR cần ghi rõ căn cứ áp dụng thời hạn, ngày chấm dứt và ngày thanh toán; không đổi “30 ngày” thành “30 ngày làm việc”. Tiền lương còn lại, tiền phép năm chưa nghỉ thuộc diện được thanh toán và các quyền lợi khác phải được xác định riêng với trợ cấp.

Người lao động nhận trợ cấp mất việc vẫn có thể hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đủ điều kiện riêng. Doanh nghiệp cần hoàn thành trách nhiệm xác nhận quá trình đóng bảo hiểm và trả giấy tờ theo Điều 48, thay vì hứa chắc số tiền trợ cấp thất nghiệp khi chưa có đủ hồ sơ.

Thực hành: bắt đầu từ căn cứ hay bắt đầu từ số tiền?

Tình huống giả định: công ty muốn giảm 3 vị trí vì doanh thu sụt giảm. Quản lý yêu cầu HR tính “mỗi người 2 tháng lương để cho nghỉ”. Hồ sơ hiện chỉ có tên nhân viên và lương tháng cuối.

Xem gợi ý phân tích

Chưa thể chốt. Cần xác định căn cứ chấm dứt, việc có thuộc Điều 42-43 hay không, phương án sử dụng lao động và thủ tục tương ứng. Với từng người, kiểm tra điều kiện 12 tháng, quá trình làm việc, thời gian BHTN và khoản tương đương đã trả nếu có, trợ cấp đã trả trước đây, cùng bình quân tiền lương 6 tháng.

Hai tháng là mức tối thiểu khi đủ điều kiện, không phải mức cố định cho mọi người. Có người phải trả cao hơn; có trường hợp phải xử lý theo căn cứ chấm dứt khác.

Đầu ra thực hành: viết phần giải thích ngắn cho quản lý, tách rõ dữ kiện cần xác minh về việc chấm dứt và dữ kiện cần để tính tiền. Chỉ chốt số sau khi hai nhóm này đã đủ.

Video trao đổi thêm

Video tham khảo về chủ đề. Khi áp dụng điều kiện và công thức, hãy đối chiếu phần chữ đã cập nhật cùng các văn bản ở cuối bài.

Căn cứ để tự tra cứu

Đối chiếu quy định tại thời điểm phát sinh vụ việc và hồ sơ thực tế. Các ví dụ trong bài là giả định để học cách phân tích.

Bạn muốn tìm hiểu tiếp?

Học cách đọc quy định và đặt tình huống thực tế vào đúng bối cảnh.

Mình là Thành HR - cùng bạn học và hiểu nghề Nhân sự.
Follow mình để cập nhật những bài học mới nhất từ HRVN Academy nha!

Theo dõi Facebook  |  Đăng ký YouTube

Cùng trao đổi3 bình luận

Bạn có câu hỏi hoặc một cách làm khác? Chia sẻ cùng Thành HR và mọi người nhé.

Viết bình luận

Hãy để lại lời nhắn tại đây cho Thành nhé! Nhớ đánh dấu tick ở mục "Notify me" để nhận được thông báo khi mình trả lời comment của bạn.
Không thấy khung nhập hoặc không đăng được?

Bạn có thể mở khung bình luận ở tab riêng để đăng nhập và tiếp tục. Nếu dùng tài khoản Google, trình duyệt có thể cần cho phép cookie của Blogger.

Mở khung bình luận ở tab riêng
  1. Dạ cho em hỏi sao ở khúc này là:

    Khoản Trợ cấp mất việc làm (TCMVL) của anh A sẽ được tính như sau:
    TCMVL = Thời gian tính 1/2 x mức hưởng 1 tháng lương x mức lương 12tr = 6tr

    Còn ở dưới là như thế này:
    Tuy nhiên, mức tối thiểu chi trả TCMVL phải là 2 tháng lương => Anh A sẽ được hưởng:
    TCMVL = 12 triệu x 2 = 24 triệu

    Vậy cái 6tr đó là để làm gì vậy ạ.
    1. Cám ơn bạn đã để lại phản hồi cho HRVN ACADEMY. Mình bổ sung thêm thông tin này để bạn dễ hiểu hơn. Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019: Cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương => Nên suy ra, anh A sẽ được nhận tối thiểu là 2 tháng tiền lương bạn nhé!
    2. Cái 6tr là mình ví dụ về cách tính thôi. Nếu mức hưởng nhỏ hơn 2 tháng lương thì mình phải lấy mức 2 tháng lương
Quảng cáo

Khóa thực hành do HRVN giới thiệu

Hiểu Luật lao động, thêm lợi thế làm nghề HR.

Luyện 90 câu cùng Thành HR · Có lời giải và gợi ý áp dụng.

Ưu đãi ra mắt: 199.000đ 49.000đ / toàn khóa Đăng ký ngay →