HR LAW NOTES · BÀI 06
HR FOUNDATION · LUẬT LAO ĐỘNG · CHẶNG 2
Cập nhật: .

Trước khi chọn hợp đồng học nghề, tập nghề, HR cần hiểu doanh nghiệp đang đào tạo điều gì, cho ai và để làm công việc nào. Thời gian, khoản trả và bước chuyển sang làm việc cần đi cùng mục đích đó.
Mình là Thành. Sau Bài 05 về thực tập sinh, chúng ta tiếp tục với một đề nghị thường gặp: “Bạn này chưa có kinh nghiệm, cho học nghề hoặc tập nghề một thời gian rồi ký hợp đồng nhé.” Để phản hồi, mình muốn cùng bạn tách rõ các khái niệm trước khi lấy mẫu.
Sau bài này, bạn có thể
- Phân biệt học nghề, tập nghề, thử việc và đào tạo nâng cao cho người lao động.
- Rà thời gian, điều kiện tiếp nhận, khoản trả và việc không thu học phí theo Điều 61.
- Nhận ra khi nào cần đọc Điều 62 về hợp đồng đào tạo và chi phí; biết những thông tin cần có trước khi trao đổi về hoàn trả.
Bài tập trung vào doanh nghiệp tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình và việc đào tạo cho người lao động. Đây không phải hướng dẫn đầy đủ về mở cơ sở đào tạo hoặc mọi chương trình thực tập của trường. Các tình huống là giả định để học cách rà hồ sơ.
1. Cùng có chữ “đào tạo”, nhưng đang nói đến việc nào?
Hướng dẫn người mới sử dụng phần mềm, đào tạo một nghề, đánh giá khả năng làm việc và cử nhân viên đi nâng cao chuyên môn là những hoạt động khác nhau. Không nên gom tất cả vào một mẫu chỉ vì đều có người hướng dẫn.
| Trường hợp | Nội dung cốt lõi | Căn cứ cần đọc |
|---|---|---|
| Học nghề để làm cho doanh nghiệp | Doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc; thời gian gắn với chương trình đào tạo của từng trình độ. | Khoản 1 Điều 61 Bộ luật Lao động và pháp luật giáo dục nghề nghiệp áp dụng. |
| Tập nghề để làm cho doanh nghiệp | Doanh nghiệp tuyển người vào hướng dẫn thực hành, tập làm một công việc theo vị trí việc làm tại nơi làm việc. | Khoản 2 Điều 61; thời hạn không quá ba tháng. |
| Thử việc | Hai bên thỏa thuận thử việc để đánh giá sự phù hợp với công việc; có quy định riêng về thời gian và tiền lương. | Điều 24–27; thời gian theo tính chất, độ phức tạp và yêu cầu của công việc. |
| Đào tạo nâng cao, đào tạo lại cho người lao động | Người lao động được đào tạo bằng kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động, trong trường hợp luật quy định. | Điều 62 về hợp đồng đào tạo nghề và chi phí đào tạo nghề. |
Bảng này giúp chọn hướng tra cứu, không thay thế việc đọc thỏa thuận và cách thực hiện. Một người mang tên “học viên” nhưng thực tế làm công việc có trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát vẫn cần được xem xét theo Điều 13. Bạn có thể quay lại Bài 04 về nhận diện quan hệ lao động.
Ngược lại, chỉ có việc tham gia lao động trong chương trình học nghề, tập nghề chưa đủ để bỏ qua Điều 61: chính điều này đã dự liệu trường hợp người học tham gia lao động và được trả lương. Cần đọc toàn bộ mục đích, chương trình, công việc và cách tổ chức.
2. Đọc Điều 61 theo những câu hỏi cụ thể
Thời gian được xác định thế nào?
Với học nghề, thời gian theo chương trình đào tạo của từng trình độ theo pháp luật giáo dục nghề nghiệp. HR cần biết doanh nghiệp đang nói đến chương trình nào, nội dung gì và căn cứ xác định thời lượng, thay vì tự chọn một số tháng cho thuận kế hoạch nhân sự.
Với tập nghề, giới hạn là không quá ba tháng. Đây là mức tối đa, không có nghĩa chương trình nào cũng phải kéo dài đủ ba tháng. Việc chia cùng một quá trình tập nghề thành nhiều đợt hoặc đổi tên văn bản không tự tạo ra căn cứ để kéo dài thời hạn.
Ai có thể được tiếp nhận?
Khoản 4 Điều 61 yêu cầu người học nghề, tập nghề từ đủ 14 tuổi và có sức khỏe phù hợp. Với nghề, công việc thuộc danh mục nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, yêu cầu từ đủ 18 tuổi, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao theo quy định này.
Mốc tuổi không có nghĩa người từ đủ 14 tuổi được bố trí làm mọi công việc. Nếu tiếp nhận người chưa thành niên, cần rà thêm điều kiện, cách tổ chức và các quy định bảo vệ áp dụng; không chỉ kiểm tra ngày sinh rồi sử dụng quy trình của người trưởng thành.
Có được thu học phí hoặc không trả lương không?
Khoản 3 Điều 61 quy định doanh nghiệp tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm cho mình không được thu học phí. Cần phân biệt trường hợp này với người đăng ký một khóa học tại cơ sở đào tạo theo quan hệ khác.
Theo khoản 5, nếu người học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động trong thời gian học thì phải được người sử dụng lao động trả lương theo mức hai bên thỏa thuận. Câu chữ của khoản này không giới hạn vào việc làm ra một sản phẩm hữu hình; HR không nên tự thêm điều kiện đó khi rà công việc dịch vụ hoặc hỗ trợ vận hành.
Mức 85% tại Điều 26 là quy định về lương thử việc, không phải công thức mặc định cho mọi chương trình học nghề, tập nghề. Trước hết cần xác định đúng quan hệ, rồi áp dụng quy định tiền lương tương ứng; không dùng tên “hỗ trợ” để thay cho bước kiểm tra nghĩa vụ.
Lưu ý khi dùng tài liệu trước năm 2026
Khoản 3 Điều 61 đã được sửa đổi bởi điểm b khoản 1 Điều 43 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/01/2026. Bản hiện hành của khoản này quy định việc không thu học phí.
Đừng chép nguyên khoản cũ rồi ghi là quy định hiện hành về đăng ký hoạt động hoặc hợp đồng đào tạo. Cũng không suy ngược rằng từ năm 2026 mọi hoạt động đào tạo đều không cần hồ sơ hay điều kiện. Phải xác định đúng chương trình, chủ thể và pháp luật áp dụng.
Bạn có thể mở Bộ luật Lao động hợp nhất 18/VBHN-VPQH năm 2026, đọc trọn Điều 61 và chú thích sửa đổi, thay vì chỉ lưu một đoạn trích được chia sẻ lại.
3. Trước khi ký, mình muốn hồ sơ làm rõ những gì?
Tên văn bản cần phù hợp với quan hệ thực tế và quy định của chương trình. Về cách làm việc, một thỏa thuận rõ bằng văn bản giúp người học, người hướng dẫn và HR hiểu cùng một kế hoạch. Bảng dưới đây là gợi ý rà hồ sơ, không phải mẫu pháp lý dùng chung hoặc danh mục bắt buộc giống nhau cho mọi trường hợp.
| Nhóm thông tin | Cần làm rõ | Tài liệu để đối chiếu |
|---|---|---|
| Mục tiêu học và vị trí dự kiến | Học nghề gì, tập công việc nào? Sau chương trình cần thực hiện được những việc gì? | Đề nghị tiếp nhận, chương trình hoặc kế hoạch hướng dẫn, mô tả vị trí. |
| Thời gian, địa điểm, người hướng dẫn | Bắt đầu và kết thúc khi nào? Học ở đâu, ai hướng dẫn, lịch thực hành và phản hồi ra sao? | Lịch đào tạo, phân công người phụ trách và căn cứ xác định thời lượng. |
| Phần việc được tham gia | Được quan sát, thực hành có giám sát hay phụ trách đầu việc nào? Ai kiểm tra trước khi sử dụng kết quả? | Nội dung thực hành, phân quyền, ghi nhận tiến độ và công việc thực tế. |
| Khoản trả và nghĩa vụ liên quan | Khi có tham gia lao động, lương thỏa thuận là bao nhiêu, trả lúc nào, tính theo tiêu chí nào? Các khoản khác được xác định ra sao? | Thỏa thuận khoản trả, bảng thanh toán; căn cứ bảo hiểm và thuế phù hợp. |
| An toàn, công cụ và dữ liệu | Đã hướng dẫn sử dụng công cụ, cách báo sự cố, đầu mối hỗ trợ và phạm vi dữ liệu được tiếp cận chưa? | Hướng dẫn an toàn, bàn giao công cụ, quyền truy cập, nội dung bảo mật phù hợp. |
| Đánh giá và kết thúc | Ai đánh giá, dựa vào tiêu chí nào? Kết thúc hoặc dừng sớm thì bàn giao, thanh toán và xử lý bước tiếp theo thế nào? | Tiêu chí đánh giá, biên bản kết quả, kế hoạch chuyển tiếp và hồ sơ liên quan. |
Mình muốn kế hoạch đủ cụ thể để người hướng dẫn thực hiện được. Chẳng hạn, “tuần đầu quan sát quy trình, tuần hai thực hành dưới giám sát, cuối tuần cùng đối chiếu lỗi thường gặp” dễ trao đổi hơn câu “đào tạo theo yêu cầu của công ty”. Nội dung thực tế vẫn phải phù hợp nghề và chương trình đang áp dụng.
Hồ sơ cũng cần được cập nhật khi công việc thay đổi. Nếu người học bắt đầu làm độc lập một phần vận hành khác với kế hoạch ban đầu, HR nên trao đổi lại với bộ phận, đối chiếu quan hệ pháp lý và quyền lợi, thay vì chỉ giữ nguyên tên trên văn bản.
4. Đừng dùng Điều 62 cho mọi người mới
Điều 62 nói đến hợp đồng đào tạo giữa người sử dụng lao động và người lao động được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề hoặc đào tạo lại trong nước, ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí thuộc trường hợp điều luật quy định. Đây là câu hỏi khác với việc tuyển một người mới vào học nghề, tập nghề theo Điều 61.
Trong trường hợp thuộc khoản 1 Điều 62, hai bên phải ký hợp đồng đào tạo nghề, lập hai bản, mỗi bên giữ một bản. Khoản 2 yêu cầu các nội dung chủ yếu:
- Nghề đào tạo.
- Địa điểm, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo.
- Thời hạn cam kết làm việc sau đào tạo.
- Chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo.
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động và của người lao động.
Chi phí đào tạo cần có căn cứ, không chỉ một con số trong mẫu
Khoản 3 Điều 62 liệt kê những khoản có chứng từ hợp lệ liên quan đến người dạy, tài liệu, trường lớp, máy móc, thiết bị, vật liệu thực hành, hỗ trợ người học, tiền lương và các khoản đóng bảo hiểm cho người học trong thời gian đi học. Nếu đào tạo ở nước ngoài, chi phí còn có thể gồm đi lại và sinh hoạt trong thời gian đào tạo theo điều luật.
Vì vậy, khi gặp câu “nghỉ trước hai năm phải hoàn trả 30 triệu đồng”, mình chưa thể kết luận chỉ bằng việc thấy chữ ký. Cần xem chương trình thuộc trường hợp nào, nghĩa vụ đã thỏa thuận ra sao, khoản chi nào thực tế phát sinh, có chứng từ gì và sự kiện nào làm phát sinh trách nhiệm hoàn trả.
Hai câu hỏi nên tách riêng
Doanh nghiệp có được thu học phí khi tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm cho mình không? Rà khoản 3 Điều 61: không được thu học phí.
Người lao động được doanh nghiệp tài trợ đào tạo có phải hoàn trả khi vi phạm cam kết không? Rà Điều 62, thỏa thuận, chi phí có căn cứ và tình huống chấm dứt cụ thể. Không lấy câu trả lời của trường hợp thứ hai để tự biến khoản học phí không được thu ở trường hợp thứ nhất thành “phí cam kết”.
Đổi tên “học phí” thành “chi phí hướng dẫn” chưa tự giải quyết được vấn đề. Đồng thời, cũng không nên khẳng định cứ nghỉ đúng thời hạn báo trước là luôn được miễn mọi nghĩa vụ đào tạo. Với yêu cầu hoàn trả cụ thể, cần người có chuyên môn xem đầy đủ hồ sơ trước khi thông báo số tiền hoặc đề xuất cách thu.
5. Kết thúc học nghề, tập nghề: cần làm bước nào tiếp theo?
Khoản 6 Điều 61 quy định hết thời hạn học nghề, tập nghề, hai bên phải ký hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện theo Bộ luật. Cần dẫn đúng khoản 6, đồng thời giữ nguyên điều kiện áp dụng; không rút gọn thành “hết ba tháng thì tự động có việc làm” cho mọi chương trình.
Về cách tổ chức, HR nên hẹn đánh giá trước ngày kết thúc, tổng hợp kết quả, làm rõ việc tiếp tục làm và chuẩn bị hồ sơ phù hợp. Nếu đủ điều kiện để giao kết, không tiếp tục sử dụng một văn bản mang tên học nghề để kéo dài cùng cách làm việc.
Có thể tự thêm một giai đoạn thử việc không?
Không nên mặc định một quy trình cố định “tập nghề ba tháng → thử việc hai tháng → hợp đồng lao động”. Khi có đề nghị này, cần đọc khoản 6 Điều 61 cùng Điều 13 và Điều 24–27: giai đoạn trước thực chất là gì, có từng thử cùng công việc chưa, công việc dự kiến sau đó có thay đổi không và đã phát sinh nghĩa vụ giao kết nào.
Điều 25 giới hạn thử việc một lần cho một công việc và quy định thời gian theo yêu cầu của công việc. Các giới hạn thử việc không tự tạo ra quyền kéo dài một quan hệ đang thuộc trường hợp phải ký hợp đồng lao động. Mình cũng không suy từ một câu của Điều 61 thành kết luận cấm mọi thỏa thuận thử việc tiếp theo trong mọi bối cảnh.
Nếu cần xem lại các mốc thử việc và lương tối thiểu 85% của công việc đó, đọc phần thử việc ở Bài 04. Bài 07 sẽ đi tiếp vào câu hỏi nghỉ trong thời gian thử việc.
6. Bảo hiểm và thuế: kiểm tra theo từng nghĩa vụ
Về BHXH: không kết luận được miễn chỉ vì tên văn bản là “học nghề” hoặc “tập nghề”. Cần nhận diện đúng quan hệ, rồi đối chiếu đối tượng, thời hạn, điều kiện tham gia và trường hợp loại trừ tại Điều 2 Luật BHXH 2024. Điều này có quy định về thỏa thuận mang tên gọi khác nhưng có nội dung lao động; người làm không trọn thời gian có điều kiện cần đọc riêng.
Ngược lại, không chỉ từ một hồ sơ đào tạo còn thiếu mà tự tuyên bố hợp đồng vô hiệu, kết luận trốn đóng hoặc tính ngay số tiền truy thu. Cần thu thập đầy đủ dữ kiện, đối chiếu căn cứ và xác định nghĩa vụ thực tế. HR nên nêu rõ điểm chưa đủ thông tin và đề xuất người phù hợp cùng rà soát.
Về thuế TNCN: tại thời điểm cập nhật, khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định ngưỡng 5 triệu đồng/lần chi trả để khấu trừ 10% đối với khoản thu nhập thuộc điều này trả cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba tháng. Không tiếp tục dùng mốc cũ 2 triệu đồng/lần cho mọi khoản chi hiện tại.
Điều kiện cam kết tạm thời chưa khấu trừ, cách khấu trừ với hợp đồng từ ba tháng trở lên và chuyển tiếp của năm 2026 đã được trình bày ở phần khoản chi trả trong Bài 05. Khi làm hồ sơ, phối hợp kế toán thuế để kiểm tra tính chất khoản trả, tình trạng cư trú, thời điểm và mẫu đang áp dụng; việc khấu trừ thuế không tự quyết định bản chất hợp đồng.
GÓC NHÌN THÀNH HR
Mình muốn biết người học sẽ tiến bộ ở đâu
Với đề nghị “cho tập nghề trước”, câu mình muốn hỏi là: “Sau thời gian này, bạn ấy cần làm được điều gì và ai sẽ giúp bạn ấy đạt được?” Câu trả lời cho biết bộ phận đã có kế hoạch hướng dẫn đến đâu và HR còn cần phối hợp phần nào.
Mình không muốn hồ sơ chỉ đẹp ở ngày ký. Nếu có lịch trao đổi, nhận xét tiến độ và đầu mối hỗ trợ, người mới sẽ dễ nói ra chỗ chưa hiểu hơn. Những ghi nhận đó cũng giúp các bên nhìn lại công việc thực tế khi bàn về quyền lợi hoặc bước tiếp theo.
Với HR mới, chưa cần trả lời thật nhanh mọi vấn đề. Mình sẽ giữ thói quen ghi rõ: đang thuộc trường hợp nào, đã có căn cứ gì, còn phải làm rõ điều gì. Một đề xuất vừa đúng trọng tâm vừa chỉ ra bước phối hợp sẽ dễ thực hiện hơn một kết luận quá rộng.
Thành HR · Chia sẻ cách tiếp cận để cùng thực hành.
7. Thử rà hai tình huống trước khi xem gợi ý
Tình huống 1 · “Chia tập nghề thành hai đợt ba tháng?”
Một doanh nghiệp dự kiến nhận An, 22 tuổi, tập nghề ở cùng một vị trí trong sáu tháng. Bộ phận đề xuất ký hai văn bản, mỗi văn bản ba tháng. Kế hoạch là một quá trình hướng dẫn liên tục, không có thay đổi vị trí. An sẽ tham gia thực hiện dịch vụ cho khách hàng từ tháng đầu, nhưng đề nghị tiếp nhận ghi “không trả tiền vì chưa làm ra sản phẩm”.
Bạn hãy nêu hai điểm cần sửa và một nhóm thông tin cần hỏi thêm.
Mở gợi ý đối chiếu
Thứ nhất, khoản 2 Điều 61 giới hạn tập nghề không quá ba tháng. Chia cùng một quá trình thành hai văn bản không tự làm cho tổng thời gian sáu tháng phù hợp. Cần rà đúng bản chất và điều chỉnh phương án theo căn cứ áp dụng.
Thứ hai, khoản 5 Điều 61 nói đến trực tiếp hoặc tham gia lao động, không chỉ tạo sản phẩm hữu hình. Cần làm rõ công việc dịch vụ An thực hiện, thời điểm tham gia, cách tổ chức và khoản trả để thỏa thuận, thực hiện đúng nghĩa vụ. Đồng thời xem thực tế có dấu hiệu quan hệ lao động theo Điều 13 hay không.
Tình huống 2 · “Nhân viên nghỉ nên tự tính 30 triệu tiền đào tạo?”
Bình đang làm việc theo hợp đồng lao động, được công ty cử đi nâng cao chuyên môn bằng kinh phí của công ty. Sau khóa học, Bình đề nghị nghỉ. Quản lý gửi HR một mẫu có câu “cam kết làm hai năm, nghỉ sớm hoàn trả 30 triệu đồng” và đề nghị thông báo ngay số tiền, nhưng HR chưa nhận hợp đồng đào tạo đã ký, chứng từ hoặc thông tin về việc chấm dứt.
Bạn sẽ yêu cầu những hồ sơ nào và phản hồi thế nào khi chưa đủ căn cứ?
Mở gợi ý đối chiếu
Đây là hướng cần đọc Điều 62. Trước hết, thu thập hợp đồng đào tạo đã giao kết, chương trình và quyết định cử đi học, khoản chi có chứng từ, thời hạn cam kết, thời gian đã làm sau đào tạo, điều kiện hoàn trả và hồ sơ chấm dứt quan hệ lao động.
Chưa đủ căn cứ thì chưa chốt số tiền chỉ theo một mẫu. HR có thể phản hồi rằng đang rà phạm vi chi phí và sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ, đồng thời đề nghị người có chuyên môn cùng đối chiếu hồ sơ. Không tự kết luận chắc chắn phải trả đủ 30 triệu hoặc chắc chắn được miễn hoàn trả.
Bạn có thể thử lấy một mẫu đã bỏ thông tin cá nhân, đánh dấu chỗ nào mô tả chương trình, chỗ nào quy định quyền lợi và chỗ nào còn thiếu căn cứ. Mục tiêu là giải thích được vì sao cần làm rõ trước khi ký.
8. Học tiếp trong series
Bài tiếp theo sẽ cùng bạn xem câu hỏi: đang thử việc và muốn nghỉ thì cần hiểu quyền của mình và trao đổi với doanh nghiệp như thế nào?
Xem toàn bộ lộ trình Luật lao động · 19 bài, 6 chặng.
Học cùng YouTube HRVN
Bạn có thể theo dõi kênh YouTube HRVN, rồi dùng các câu hỏi trong bài để tự rà tình huống. Với nội dung được chia sẻ trước đây, nhớ kiểm tra lại quy định và mốc hiệu lực tại thời điểm áp dụng.
Muốn luyện thêm, xem thông tin chương trình trắc nghiệm Luật lao động cơ bản tại HRHUB Vietnam. Nội dung, điều kiện tham gia và trạng thái mở đăng ký được cập nhật tại trang chương trình.
Nguồn để bạn tự đối chiếu
- Văn bản hợp nhất 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 – Bộ luật Lao động: Điều 13, 24–27, 61–62 và chú thích sửa đổi. Khi áp dụng, kiểm tra văn bản mới sau ngày hợp nhất.
- Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15: điểm b khoản 1 Điều 43 sửa khoản 3 Điều 61 Bộ luật Lao động; Điều 44 về hiệu lực.
- Luật BHXH 41/2024/QH15: Điều 2 về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
- Nghị định 253/2026/NĐ-CP: Điều 50 về khấu trừ thuế; Điều 69–70 về hiệu lực, áp dụng và chuyển tiếp.
Thành HR · HRVN Academy · Biên tập và đối chiếu nguồn: 14/09/2026. Bài giúp học cách phân biệt và rà hồ sơ ở mức nền tảng; yêu cầu hoàn trả chi phí hoặc tình huống có tranh chấp cần được xem xét trên đầy đủ hồ sơ thực tế.
Cùng trao đổi0 bình luận
Bạn có câu hỏi hoặc một cách làm khác? Chia sẻ cùng Thành HR và mọi người nhé.
Viết bình luận
Đang mở khung bình luận…
Không thấy khung nhập hoặc không đăng được?
Bạn có thể mở khung bình luận ở tab riêng để đăng nhập và tiếp tục. Nếu dùng tài khoản Google, trình duyệt có thể cần cho phép cookie của Blogger.
Mở khung bình luận ở tab riêngChưa có bình luận. Mời bạn mở đầu cuộc trao đổi.